Blog
Nghiên cứu tình huống về bảo hiểm chính sách có giá trị thông qua một vụ kiện tranh chấp
Bản tóm tắt
Một con tàu chở 5.500 tấn vật liệu xây dựng từ Tuticorin (Ấn Độ) đến Male và Foammulah (Maldives).
Tàu đến Male vào ngày 9 tháng 8 năm 2016 dỡ một phần hàng và rời Male vào ngày 12 tháng 8 năm 2016. Vào ngày 13 tháng 8 năm 2016, trong khi tàu đang tìm nơi neo đậu an toàn tại Foammulah, tàu đã mắc cạn trên các rạn san hô và đá gần bờ biển. Vào buổi tối ngày 5 tháng 9 năm 2016, các công nhân trên tàu bắt đầu ném hàng xuống biển để làm nhẹ tàu; đến sáng ngày 9 tháng 9 năm 2016, tàu đã dỡ gần 3.000 tấn hàng và đến ngày 14 tháng 9 năm 2016, số hàng còn lại trên tàu là 1.882 tấn. Vào buổi chiều ngày 15 tháng 9 năm 2016, tàu kéo cứu hộ, với sự hỗ trợ của máy chính của tàu, đã giải phóng thành công con tàu, con tàu nghiêng sang phải 8 độ. Sau khi điều chỉnh độ nghiêng, tàu kéo đã kéo được tàu vào vị trí an toàn 0.30S-073.40E nhưng tàu bị hư hỏng nặng.
Ngày 23 tháng 9 năm 2016, chủ tàu tuyên bố từ bỏ tàu. Ngày 1 tháng 10 năm 2016, tàu được kéo ra khỏi vùng biển Maldives đến một vị trí cách đảo Foammulah khoảng 90 hải lý, sâu 4.000 mét và chìm tại vị trí này vào cùng ngày. Chủ tàu đã mua bảo hiểm thân tàu với số tiền bảo hiểm là 2,8 triệu đô la Mỹ và giá trị tàu là 2,8 triệu đô la Mỹ. Do đó, về tổng thiệt hại, chủ tàu yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường 2,8 triệu đô la Mỹ, nhưng công ty bảo hiểm lập luận rằng đây không phải là chính sách định giá (theo quan điểm của chủ tàu) mà là bảo hiểm giá trị. Do đó, khoản bồi thường chỉ được chấp nhận theo kết quả xác định giá tại thời điểm mất mát (ngày 13 tháng 8 năm 2016) – thấp hơn nhiều so với 2,8 triệu đô la Mỹ. Do không thể thương lượng được, chủ tàu đã kiện công ty bảo hiểm ra tòa.
Tóm tắt quan điểm của chủ tàu
Chủ tàu cho rằng đối tượng được bảo hiểm là tàu bao gồm cả thân tàu, máy móc và trang thiết bị trên tàu, giá trị bảo hiểm là 2,8 triệu đô la Mỹ, số tiền bảo hiểm cũng là 2,8 triệu đô la Mỹ. Chủ tàu và công ty bảo hiểm đã thống nhất xác định trường hợp này là tổn thất toàn bộ ước tính. Chủ tàu không đồng ý với số tiền bồi thường mà công ty bảo hiểm đưa ra theo chứng thư giám định với lý do đây là “hợp đồng bảo hiểm định giá” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 228 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005: “Hợp đồng bảo hiểm định giá là hợp đồng bảo hiểm trong đó người bảo hiểm thỏa thuận trước giá trị của đối tượng được bảo hiểm ghi trong hợp đồng, phù hợp với giá trị bảo hiểm và được sử dụng trong việc giải quyết khiếu nại bồi thường tổn thất toàn bộ hoặc tổn thất bộ phận”. Ngoài ra, chủ tàu còn yêu cầu công ty bảo hiểm trả lãi cho số tiền 2,8 triệu đô la Mỹ kể từ ngày họ đáng lẽ được hưởng số tiền này cho đến ngày ra phán quyết.
Tóm tắt quan điểm của công ty bảo hiểm
Công ty bảo hiểm viện dẫn Điều 46 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000: “1. Số tiền bồi thường mà công ty bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, địa điểm xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí xác định giá thị trường và mức độ thiệt hại do công ty bảo hiểm chịu. 2. Số tiền bồi thường mà công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” để từ chối bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm (cũng là giá trị bảo hiểm tàu - 2,8 triệu đô la Mỹ) và cho rằng đây là bảo hiểm vượt giá trị nên chỉ chấp nhận bồi thường theo kết quả giám định tàu.
Tóm tắt quan điểm của Tòa án và Viện kiểm sát
Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, xét hỏi, trả lời và tranh luận tại phiên tòa ngày 19 tháng 10 năm 2018; Tòa án tuyên bố: “[… ] giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối tượng được bảo hiểm. Do đó, số tiền bảo hiểm […] phải dựa trên giá trị thực tế của tàu tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm” (trang 12 của Bản án).
Viện Kiểm sát cho rằng “[…] hai bên đã ký hợp đồng bảo hiểm vượt quá giá trị tài sản được bảo hiểm […]” (trang 10 Bản án) – thường gọi là bảo hiểm vượt giá trị – nên cần xác định giá để có được số tiền bồi thường theo chứng thư định giá mà Tòa án yêu cầu.
Do đó, ngày 23/10/2018, bản án sơ thẩm đã được tuyên theo quan điểm không công nhận đây là hợp đồng bảo hiểm có giá trị như chủ tàu (nguyên đơn) lập luận và chỉ chấp nhận bồi thường theo ý kiến của công ty bảo hiểm (bị đơn) theo kết quả định giá mà Tòa án đã trưng cầu với giá trị tàu tại thời điểm xảy ra tổn thất (ngày 13/8/2016) là 41.541.429.000 đồng (tương đương 1.779.000 đô la Mỹ theo tỷ giá 1 đô la Mỹ = 23.351 đồng) và giá trị phụ tùng, vật tư trên tàu là 5.283.065.575 đồng (tương đương 226.246 đô la Mỹ) và số tiền lãi là 8.593.418.541 đồng (tương đương 368.010 đô la Mỹ).
bình luận
Điều 2.1 của Hợp đồng bảo hiểm quy định: “Hợp đồng bảo hiểm này được điều chỉnh và quy định bởi Bộ luật Hàng hải Việt Nam. Trường hợp Bộ luật Hàng hải Việt Nam chưa có quy định thì áp dụng Luật và Thông lệ Bảo hiểm Hàng hải Quốc tế”. Theo đó, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực tại thời điểm xảy ra tổn thất) được áp dụng và nếu có sự thiếu hụt thì áp dụng Luật và Thông lệ Bảo hiểm Quốc tế.
Giấy chứng nhận bảo hiểm thân tàu ghi rõ: “Giá trị tàu: 2.800.000 USD, Số tiền bảo hiểm: 2.800.000 USD” và không có thỏa thuận về việc định giá lại sau khi bồi thường.
Do đó, căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 228 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005: “Hợp đồng bảo hiểm định giá là hợp đồng bảo hiểm mà người bảo hiểm thỏa thuận trước giá trị của đối tượng bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm, theo giá trị bảo hiểm và được sử dụng để giải quyết khiếu nại tổn thất toàn bộ hoặc tổn thất bộ phận”, nghiệp vụ bảo hiểm trong trường hợp này là hợp đồng định giá và công ty bảo hiểm phải bồi thường 2,8 triệu đô la.
Bản án dài 15 trang, người viết chỉ bình luận vắn tắt về bản chất vụ việc và mong muốn có cơ hội trao đổi, làm rõ hơn. Được biết, ngày 2/11/2018, chủ tàu đã nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm để xét xử phúc thẩm.
Tóm tắt và tổng hợp của Luật sư Ngô Khắc Lệ (Hiệp hội Logistics Việt Nam — VLA) – Bản dịch Việt-Anh của www.vantage-logistics.com.vn...